phamvietdao.net

phamvietdao.net

Thứ sáu, ngày 27 tháng một năm 2012

NGÀY TẾT KỂ CHUYỆN VUI VỀ TÁC GIẢ ÔNG ĐỒ GIÀ: VŨ ĐÌNH LIÊN

Chợ Hoa Hàng Lược_Tranh Bùi Xuân Phái
---------------
Nhà thơ Vũ Đình Liên là người gốc Hải Dương nhưng lại sinh ra ở Hà Nội (1913-1996), nhà ông ở phố Hàng Bạc. Vốn là một hàn sĩ, đi dậy học, nhưng có bằng tú tài Pháp và từng học luật. Ông còn là chủ bút tờ báo Tinh Hoa. Vũ tiên sinh làm thơ từ khi còn rất trẻ. Bài thơ Ông Đồ được nhà thơ làm khi tóc vẫn còn xanh và nói tới Vũ tiên sinh là người ta nhớ ngay đến Ông đồ và chỉ bài thơ Ông đồ thôi cũng đã đủ tôn xưng ông là một nhà thơ lớn.

Nhớ về nhà thơ Vũ Đình Liên, tôi thấy ông có tấm lòng bao dung và thương yêu người nghèo hiếm có khó thấy. Thủa đó, cá tính của Vũ tiên sinh thường bị mọi người cho là gàn bát sách, leng keng, chập cheng. Thời bao cấp, hễ được cơ quan phân phối cho ông cân thịt hay mét vải, thế là ông cầm lấy nó và hăm hở đi khắp trong thành phố tìm người hành khất đầu tiên mà ông gặp để cho. Mồng một Tết, Vũ tiên sinh thường bỏ nhà đi, ông đem theo mấy chiếc bánh chưng đi du hành cùng vớ túi thơ, tình cờ nhà thơ gặp một người đàn bà điên đang đi ăn xin. Vũ tiên sinh ngồi xuống và bóc bánh chưng mời người đàn bà điên cùng ăn, rồi nhà thơ họ Vũ đề nghị được kết nghĩa chị em với người đàn bà điên ấy. Về nhà ông vội sáng tác tập thơ với tiêu đề “Người đàn bà điên ga Lưu Xá” và đem tập bản thảo đó nhờ Bùi Xuân Phái trình bày bìa, bên trong có những phụ bản minh họa đẹp tuyệt vời. Tôi có được xem cả tập thơ ấy và những tác phẩm minh họa của BXPhái. Rất tiếc là sau khi Vũ Đình Liên qua đời, tập thơ “Người đàn bà điên ga Lưu Xá” cùng với những họa phẩm độc đáo của danh họa Bùi Xuân Phái cũng đi theo “Những người muôn năm cũ” mất tăm mất dạng, không một ai biết được tập bản thảo ấy “Hồn ở đâu bây giờ?“


Vài mẩu chuyện vui về nhà thơ Vũ Đình Liên

* Một lần nhà thơ Vũ Đình Liên hớn hở đến nhà Bùi Xuân Phái khoe kể chuyện ông vừa được vinh danh là ông hoàng. Mọi người ngạc nhiên hỏi khi nào, bao giờ, ở đâu? Vũ tiên sinh bèn kể:

-Vừa mới đây thôi, khi tôi đang đi bộ lững thững dưới lòng đường thì bị một anh lái xe thò đầu ra cửa kính, quát: ”Nhà ông này sao đi nghênh ngang như ông hoàng” nhà thơ tỏ ra thích thú vì theo ông “Chưa bao giờ có ai gọi tôi là ông hoàng cả” Nghe vậy, có người góp ý “Ông hoàng sao sướng bằng nhà thơ?” Vũ Đình Liên nghe vậy ngẩn ra một lúc ngẫm ngợi, sau ông vỗ đét một cái vào đùi rồi nói:

-Ừ, đấy là tôi kể chuyện thời sự nó vừa xẩy ra trên đường mình đi, chứ bảo tôi hoán đổi chức danh nhà thơ để trở thành ông hoàng, xin thưa, không bao giờ tôi thèm nhá.

* Nhà thơ Vũ Đình Liên cứ sáng tác được bài thơ nào thì người đầu tiên phải chịu trận, nghe thơ của ông lại là Bùi Xuân Phái. Nhà thơ trèo lên căn gác xép của họa sĩ và đọc thơ vang lên ở trên đó, Vũ tiên sinh cũng có câu thơ mô tả hình ảnh này

Gác treo tám thước nhà anh Phái
Một tiếng thơ ngâm sóng gió đầy...

Và hầu như bài thơ nào của Vũ Đình Liên cũng được Phái vẽ minh họa. Thời các ông chưa có máy photocopy, nên muốn tự ra một tập thơ, nhà thơ phải chép tay ra vài ba quyển để tặng bạn bè, và cũng lại do BXPhái trình bày bìa. Thế nên Vũ Đình Liên cũng có bài thơ “Sách chửa kịp in đã có bìa”

*Nhớ có lần BXPhái đã vẽ bức tranh để minh họa cho bài thơ của Vũ Đình Liên . Khi BXP vẽ xong bức tranh ấy, ông chọn một câu trong bài thơ :” Đốt Trái Tim Trầm Gửi Gió Hương” và ông vẽ chữ lên bức tranh đó (người ta vẫn nói vui như thế, vì chữ viết của ông trên tranh trông như vẽ chứ không phải là viết) Sau đó có người khách hỏi mua, BXP đáp:
- Đã mang tinh thần: ” Đốt Trái Tim Trầm Gửi Gió Hương” vậy mà bây giờ còn muốn đem ra mua bán là sao? Như thế chỉ là người muốn nói cho sướng cái miệng mà thôi. Sau đó BXPhái bèn sai tôi cầm bức tranh đi tìm nhà thơ Vũ Đình Liên để giao gửi tác phẩm ấy cho nhà thơ.

*Một lần Bùi Xuân Phái có việc gấp phải đi ra khỏi nhà, ông vừa ra cổng thì chạm trán Vũ Đình Liên đi vào. Bùi Xuân Phái tế nhị, muốn tránh cho bạn khỏi phải nhận lời xin lỗi của mình, ông vội trèo lên cái cối đá vốn nằm úp ở sân và BXPhái đứng im, giả làm bức tượng.Nhà thơ Vũ Đình Liên lững thững đi qua “bức tượng” mà không hề hay biết gì.
BÀI THƠ “ÔNG ĐỒ” VỚI HÌNH ẢNH HOA ĐÀO                                                                               
Trước năm 1975, giai đoạn miền Bắc vẫn còn là một bí mật, đối với những người lớn lên và trưởng thành tại miền Nam, thì cứ mỗi mùa xuân tới, đọc các trang báo xuân, nghe những văn nghệ sĩ, những người bắc di cư vào Nam nhắc lại những kỉ niệm về những mùa xuân tại miền Bắc thì trong tôi lại nảy sinh ra những háo hức, sự ham thích về một mùa xuân Hà Nội. Thích nhất là nghe nói và tả về hoa đào tại miền Bắc, biểu tượng cho mùa xuân cũng như hoa mai tại miền Nam.

Lòng hiếu kỳ, sự tò mò về hoa đào lại càng gắn kết trong tôi sự thích thú với bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên, với hình ảnh minh họa, cụ đồ già, áo dài đen, chít khăn đóng, đang còng lưng, viết những câu đối trên tờ giấy đỏ những chữ nho to:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu...
Ông đồ vẫn ngồi đấy,
Qua đường không ai hay.
Lá vàng rơi trên giấy;
Ngoài giời mưa bụi bay.
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ?
(bản của tác giả Nguyễn Hưng Quốc)
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
4 câu thơ đầu phác vẽ cảnh sinh hoạt mùa xuân tại miền Bắc với hai biểu tượng:
Hoa đào nở và ông đồ già.
- Thiên nhiên: Hoa đào nở.
- Con người: Ông đồ già
Ông đồ già làm gì?
Bày mực tàu giấy đỏ bên phố đông người tấp nập qua lại, ông đồ viết thuê những câu đối bằng chữ nho (chữ Hán) để chúc tụng đầu năm:
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc khen ngợi tài
"Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay.”
Đây là một nếp sinh hoạt đông đúc, mang đượm tính văn hóa, biểu tượng cho nền văn học Hán Nôm và cũng biểu tượng cho nét tinh túy, ngàn năm văn vật của đất Thăng Long Hà Nội. 4 câu thơ thể hiện sự sùng mộ của con người thời kỳ chữ Hán đang còn được ưa chuộng.
Tuy nhiên theo dòng thời gian, sự mai một của một nền văn học đã lỗi thời kéo theo cảnh chợ chiều của một nếp sinh hoạt văn hóa:
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu...
Hình ảnh giấy đỏ buồn không còn thắm diễn tả trạng thái biến chuyển của "tờ giấy" vì không thấm mực và nghiên sầu vì mực đọng mãi trong nghiên thật quá hay. Tác giả đã nhân hóa “giấy đỏ” và “nghiên” đựng mực. Cả hai đã có tâm trạng chán chường vì “người thuê viết” mỗi năm, mỗi vắng dần.
Bị người đời bỏ rơi, ông đồ ngồi trầm ngâm. Và 4 câu tiếp, tác giả đã phác họa một bức tranh, tuy không phải là tỉnh vật (nature morte) nhưng qua hình ảnh “lá vàng rơi trên giấy”, “ngoài trời mưa bụi bay” trở thành một cái nền làm nỗi bật “ông đồ” bất động, ngồi như tượng đá, không còn hoạt động, không còn tiếp cận với khách qua đường. Và bức tranh trở nên tĩnh: Cái nghiên mực, giấy đỏ, ông đồ, tất cả đều bất động, im lìm (immobile).
Ông đồ vẫn ngồi đó,
Qua đường không ai hay.
Lá vàng rơi trên giấy;
Ngoài trời mưa bụi bay.
Câu “Ông đồ vãn ngồi đó”, “Qua đường không ai hay” diễn tả rất tuyệt vời thân phận của ông đồ - sự cô độc, ông ngồi đó mà như đã chết rồi, hay nói cách khác ngồi như hòn đá, cục đất người qua đường chẳng ai hay biết.
4 câu cuối thì hình ảnh “ông đồ” chỉ còn là kí ức, là kỉ niệm:
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Hai câu sau cùng: Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ? Mệnh đề nghi vấn là một tiếng thở dài, than tiếc cho một thời kỳ hoàng kim nay chỉ còn là hoài niệm.
Nếu nhạc sĩ La Hối chỉ một bản nhạc “Xuân và tuổi trẻ” mà nổi tiếng thì ta có thể nói, qua bài thơ “Ông đồ”, Vũ Đình Liên đã được biết đến như là một trong những nhà thơ mới trong thời kỳ tiếp cận văn học lãng mạn Tây phương với những nhà thơ mới tiêu biểu Xuân Diệu, Huy Cận, …(các bạn có thể tìm hiểu thân thế nhà thơ Vũ Đình Liên qua mạng google)
Và cứ thế, mỗi mùa xuân qua, với bao thay đổi, biến thiên của hoàn cảnh xã hội, bài thơ “Ông đồ” vẫn ngự trị trong tôi một lòng hoài niệm, một ấn tượng đẹp, thương xót cho một triều đại qua hình ảnh ông đồ và hoa đào. Ông đồ và những người muôn năm cũ thì đã đi xa, xa lắm rồi, nhưng còn hoa đào?
Miền Nam sau 1975, mỗi lần giáp tết, tại các chợ hoa, các lề đường tại một số trọng điểm Đà Nẵng, người dân được chứng kiến các nhành đào được bày bán la liệt. Có cành cắt để cắm, có cành là một cây để nguyên, mang về nhà có thể cắm vào chậu trồng thử nghiệm luôn. Nhìn chung hoa đào và hoa mai có những đặc tính giống nhau và khác nhau: Điểm giống nhau giữa hai loại cây là cùng nở vào mùa xuân và là biểu tượng cho mỗi miền. Miền Bắc: Hoa đào. Miền Nam: Hoa mai. Một điểm giống nhau nữa là cả hai đều có dáng khẳng khiu, khi chuẩn bị ra hoa và nở thì rụng lá. Một điểm giống khác, là người chơi hoa đều chọn mai hay đào với thế vươn lên cao, thẳng không bị trở ngại như cành bị gãy hay bị trĩu xuống đất, …Nhưng với thế đẹp thì các bạn khỏi lo, cành đào trăm cành như một đều thế vươn lên trời và không bao giờ có cành đi lạc xuống đất!

Điểm khác nhau giữa hai loại hoa là hoa mai, khi nở xòe ra 5 cánh, màu vàng, có khi chỉ 4 cánh, người ta gọi là tứ quý (đầu năm mà có được cánh hoa nở 4 cánh thì người ta rất quý, xem như quanh năm mọi việc đều may mắn!), có khi lại được 6 cánh (gọi là lục phú: quá tuyệt), nhưng giống mai miền Nam thì tất cả các cành hoa đều nở rất nhiều cánh, có cái nở đến 10, 15 cánh là bình thường. Vì vậy hoa mai miền Nam đã phá tan đi cách bói, xem hoa đầu năm tại Huế.
Hoa mai Huế rất bực mình vì hoa mai miền Nam!
Mô típ hoa đào, khi nở thì không xòe ra cánh. Hoa đào nở trông như một đóa trà mi nhỏ. Một điểm khác nhau nữa: Hoa mai màu vàng, có hương thơm thanh khiết thoang thoảng, như giống mai ở Huế, người ta gọi là thanh mai.
Sáng mồng một tết, bạn thức giấc lúc trời còn ửng tối, bạn phát hiện một mùi hương thoảng nhẹ, rất dễ chịu, nó giống như hoa hồng, nhưng không phải là hoa hồng, nó giống như hương thơm lan Cát ti da, nhưng cũng không phải. Đây là mùi hương thoảng nhẹ, thanh khiết, làm say đắm lòng mình, một cài gì đó rất êm dịu, thân thương. Phải chăng là hương thanh mai. Bạn chợt nhìn lên, cành mai ở trên bàn, có mấy cái đang nở , xòe ra 5 cánh, có cái còn hàm tiếu, như đang nhìn bạn, mĩm cười chào năm mới. Tự nhiên bạn cảm thấy lòng mình trong sạch, thánh thiện vô cùng. Mọi dục vọng đời thường, mọi phiền lụy bỗng tan biến.
Ôi! Thương vô cùng cánh hoa mai sáng mồng một tết.
Nhưng với hoa đào, sắc màu rực rỡ tráng lệ kia, bạn đừng bao giờ thưởng thức được một mùi hương. Hoa đào hữu sắc nhưng không hương. Ôi có nỗi thất vọng nào lớn hơn!
Bạn nhé, đừng nghĩ rằng tôi có sự kỳ thị với loài hoa, đừng bao giờ đứng trên quan điểm chính trị để phê phán! Tôi chỉ là khách thưởng ngoạn hoa và từ lâu ôm ấp một hình bóng đẹp về hoa đào, nay cảm thấy buồn vì sao đào lại không hương!
Chào bạn năm mới, chúc bạn mọi điều tốt đẹp!

1 nhận xét:

  1. đầu xuân được nhà văn cho xem bài viết này khiến lòng mình ấm lại và nhớ những kỷ niệm tuổi ấu thơ khi còn ở hanoi, tôi cứ nhớ mãi những buổi sáng ngồi uống cafe GIẢNG khi sinh thời ông bà chủ quán còn sống, cơ may cho tôi hay cho tôi hay gặp nhà danh họa BÙI XUÂN PHÁI sáng nào cũng ra đấy ngồi uống, dáng ông khắc khổ , hai gò má tóp nhăn nheo... giờ đọc lại những trang viết về ông ... một nỗi buồn cứ len lỏi trong tôi đầy xúc cảm . chắc tại mình già có tuổi hay nghĩ vẩn vơ. cám ơn anh PHẠM VIẾT ĐÀO nhé . đầu xuân chúc anh cùng gia quyến một năm tràn đầy sức khỏe , viết khỏe đi nhiều, an khang thịnh vượng , bút lực sung mãn gia đình hạnh phúc

    Trả lờiXóa