Sống và chết.
Sống: là khi tâm hồn và
thân xác cùng tồn tại, gắn kết nhau,
định hình và phát triển thành một cá thể nhân cách trên thế giới dương gian.
Sống thế nào? Là câu hỏi mà những ai trọng nhân
cách luôn trăn trở. Suy cho cùng cuộc sống của mỗi người là tổng hoà các mối
quan hệ với thiên nhiên, với xã hội và
với cộng đồng. Muốn tồn tại, phát
triển, muốn sống có ý nghĩa rất cần phải hiểu và dần làm chủ các mối quan hệ
đó.
Với thiên nhiên: phải
không ngừng khám phá, nắm được bản chất và quy luật vận động để tránh, để chống,
để chinh phục, để tận dụng khai thác mọi tác động của thiên nhiên vì cuộc sống
con người. Phải hiểu về âm dương, ngũ hành, về vũ trụ, mây, mưa, sấm sét, về
cây trồng, vật nuôi, về gieo cấy thu hoạch, bảo quản, chế biến, về khoa học, kỹ
thuật, công nghệ... Chúng ta đang sống trong thời đại mà thiên nhiên và môi trường
từng ngày, từng giờ biến đổi khôn lường. Tầng ozon bị huỷ hoại, trái đất nóng
lên, băng tan ở Bắc Cực, nước biển dâng cao, thảm thực vật ngày càng co hẹp,
nguồn nước cạn kiệt, động đất, lũ lụt, sóng thần và biết bao thảm họa khủng khiếp
khác.
Đồng thời nhân loại cũng đạt được không ít thành tựu vĩ đại. Những phát
minh khám phá về zen di truyền, về kỹ
thuật số, về lòng đất, lòng biển và vũ trụ... Cùng với tự nhiên còn biết bao
ngành thuộc khoa học xã hội như lịch sử, triết học, đạo đức, tôn giáo, địa lý,
tâm linh... tác động mạnh mẽ tới đời sống con người. Trong bối cảnh như thế,
nếu mỗi chúng ta không trang bị cho mình sự hiểu biết cần thiết thì cuộc sống
sẽ ra sao?
Bài liên quan:
Phần 1: LUẬN VỀ SỐNG VÀ CHẾT ( Phần 1 )
Bài liên quan:
Phần 1: LUẬN VỀ SỐNG VÀ CHẾT ( Phần 1 )
Với xã hội: loài người
từ cuộc sống bầy đàn, đến chế độ bộ, thị tộc, rồi công xã nguyên thuỷ, phong kiến,
tư bản... Xu thế tất yếu là tổ chức quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật.
Pháp luật là hệ thống các quy phạm có tính bắt buộc thể hiện ý chí của giai cấp
thống trị quy thành luật và được bảo vệ bởi quyền lực nhà nước. Pháp luật tương
ứng với từng kiểu nhà nước và nhà nước quản lý điều hành xã hội bằng pháp luật.
Tất cả mọi người đều chịu sự chi phối và bình đẳng trước pháp luật. Từ thế kỷ
thứ 3 trCN Hàn Phi Tử đã viết: "Pháp
luật không hùa theo bất cứ thế lực nào. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần,
thưởng cái đúng không sót kẻ thất phu. Bậc vua sáng khiến pháp luật chọn người
chứ không tự mình tiến cử, khiến pháp luật đo lường công lao chứ không tự mình
tính toán. Pháp luật là quy tắc của thiên hạ. Lấy pháp luật trị tội thì dân chịu
chết mà không oán. Lấy pháp luật định công thì dân nhận thưởng mà không cho là
ân đức. Quan lại trị dân bằng pháp luật thì dân theo, không trị dân bằng pháp
luật thì dân kháng. Người dưới lấy pháp luật phục vụ người trên thì bọn dối trá
không thể lừa chủ, bọn ghen ghét không thể có cái bụng kẻ giặc, bọn xu nịnh
không thể bợ đỡ xảo trá, ngoài ngàn dặm không dám làm điều trái". Sở
dĩ con hổ khống chế được con chó là nhờ có nanh vuốt. Nếu hổ bỏ nanh vuốt mà
trao cho chó thì ngược lại, chó sẽ khống chế hổ. Nanh vuốt giống như hình và đức. Hình là phạt. Đức là
thưởng. Vua dùng hình và đức không đúng pháp luật sẽ không tạo ra tín. Tín là nền tảng của
phép trị quốc. Có lần Tử Cổng hỏi Khổng Tử: "Việc chính trị nên như thế
nào?". Khổng Tử đáp: "Túc thực,
túc binh, dân tín chí dĩ". (Đủ ăn, đủ binh và được dân tin). Tử Lộ lại
hỏi: "Trong ba điều ấy, nếu phải bỏ một, thì bỏ cái gì?". "Bỏ
binh". "Nếu hai điều còn lại phải bỏ một, thì bỏ cái gì?".
"Bỏ thực". Điều thứ ba phải giữ, bởi mất lòng tin của dân là mất tất
cả. Tín quan trọng là thế. Không có tín sẽ không có uy. Không tín, không uy sẽ không quản nổi xã tắc và nước sẽ loạn. Không có nước nào luôn
luôn mạnh. Cũng không có nước nào luôn luôn yếu. Hễ những người thi hành pháp
luật mạnh thì nước mạnh. Hễ những người thi hành pháp luật yếu, thì nước yếu.
Nhà Tống (Trung Quốc) một vương triều
tồn tại hơn ba trăm năm nhờ giữ vững kỷ cương phép nước, nhờ các bậc minh vương
như Tống Thái Tổ, Tống Thái Tôn, Tống Nhân Tôn, Tống Thần Tôn... luôn kiên trì
chủ trương trị quốc bằng pháp luật, nhờ những quan tư pháp chính trực thanh
liêm, thiết diện vô tư như Bao Công. Vụ án "Đả Long Bào" là điển hình của thể chế chính trị lấy pháp luật
làm nền tảng. Là nạn nhân của những thủ đoạn vô cùng độc ác do Lưu Nương Nương
chủ mưu, thái giám Quách Hoè tòng phạm dùng xác mèo lột da thay thế hài nhi
Thái tử vừa được Lý Nương Nương sinh ra... mà hai chục năm sau vô tình nhà vua
mang tội bất hiếu với mẹ đẻ. Sau khi rõ nhân chứng, vật chứng để bảo vệ sự tôn
nghiêm của pháp luật, nhà vua hạ chỉ cho Bao Công lập tức thăng đường xét xử.
Đây là vụ kỳ án chưa từng có. Chánh toà là Phủ doãn phủ Khai Phong và bị cáo là
nhà vua. Mọi trình tự xét xử được tiến hành theo đúng luật. Hình phạt cho bị
cáo là đánh năm mươi trượng. Nhà vua sẵn sàng cam chịu. Nhưng lo bảo toàn ngọc
thể để quốc vương tiếp tục điều hành xã tắc, Bao Công có "sáng kiến"
treo Long Bào của vua lên đánh đủ năm mươi trượng. Long Bào là biểu tượng uy thế
tối cao quyền lực. Đánh vào Long Bào có nghĩa mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật bất luận là Hoàng đế hay thảo dân. Sau khi bản án được thi hành, nhà
vua hạ chiếu ban bố thông cáo để khắp bàn dân thiên hạ biết về vụ án này. Một
quốc gia có những bậc vua sáng như thế, những quan toà như thế, nhất định quốc
gia đó mạnh.
Những đời sau, nhất là khi Tống Thần Tôn, Vương An Thạch, Bao Công... qua đời
pháp luật rệu rã, kỷ cương phép nước buông lỏng triều Tống mau chóng suy tàn để
rồi Kim, Liêu, Nguyên nổi lên bá chủ. Rõ
ràng nước thịnh dân an, quốc gia hùng mạnh là nhờ ở pháp luật. Bộ luật quan trọng
nhất của một quốc gia là Hiến pháp. Hiến pháp đại diện quyền lợi của quốc gia
chứ không thuộc riêng một giai cấp nào, một đảng phái chính trị nào. Hiến pháp
là ý chí, nguyện vọng của toàn dân do những luật gia ưu tú soạn thảo, được toàn
dân tham gia góp ý và được Quốc hội, những đại biểu có đức, tài do dân bầu ra
thảo luận, thông qua. Dù nội các này đổ, nội các khác thay thế đều phải tuân thủ
nghiêm chỉnh Hiến pháp. Hiến pháp là nền tảng cho ổn định, là cơ sở cho cả hệ
thống luật pháp, đảm bảo cho sự vững mạnh và phát triển của đất nước. Hàn Phi Tử
viết: "Nhờ dây dọi thẳng mà cây cong
bị đẽo. Nhờ cái mực nước bằng mà chỗ cao, chỗ nghiêng bị gọt. Nhờ treo cái cân
lên mà bớt được bên nặng, thêm vào bên nhẹ. Nhờ cái đấu, cái thạch mà bớt được
cái nhiều, thêm được cái ít. Cho nên đã lấy pháp luật trị nước thì chỉ cốt theo
pháp luật mà làm. Pháp luật không hùa theo người quyền thế. Sợi dây dọi không uốn
theo gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn không từ, kẻ dũng không
tránh, bất luận là vua chúa hay thảo dân”. Hoàng Thái Cực, văn võ song
toàn, túc trí đa mưu, là bậc minh quân sáng lập vương triều nhà Thanh. Năm
1673, sau thời gian đem quân đi đánh Triều Tiên về nhà vua biết các vương, các
tướng, các quan có nhiều hành vi phạm pháp luật, lộng quyền tham nhũng. Ông lệnh
cho cho quan chấp pháp điều tra kỹ, kê tội rồi chuyển qua Bộ Hình thẩm nghị. Có
64 người phạm tội, gồm con trai, anh em, phò mã và các cháu nhà vua. Bộ Hình thỉnh
thị xin nhà vua ban lệnh xử trí thế nào. Hoàng Thái Cực không do dự, truyền:
"Cứ xử đúng theo luật pháp!". Kết quả tử hình 24 người, cách chức 13
người, còn lại đánh roi, phạt tiền. Anh trai nhà vua là Đại Thiện, quan to
trong triều, quy định chỉ được 12 hộ vệ, nhưng cậy thế là anh vua tuyển thêm
hai người nữa. Hoàng Thái Cực lập tức triệu tập chư vương đại thần họp. Nhà vua
xử phạt anh trai. Sự nghiêm minh ấy giúp xã tắc vững bền. Người dân không sợ luật
nghiêm mà chỉ sợ luật không nghiêm, nhất là không nghiêm ngay từ những người thực thi pháp luật. Bởi thế sẽ tạo kẽ hở cho
bao che, hối lộ, tham nhũng, sẽ mất lòng tin, gây oan ức phẫn nộ trong dân, sẽ
tiềm ẩn mâu thuẫn xã hội và mầm loạn sẽ
phát sinh. Một chế độ mà luật pháp không nghiêm thì rất đáng báo động. Một quốc
gia nếu không có những quan lại kiên quyết giữ vững kỷ cương phép nước, không
có các bậc đại thần dám can gián, không có vua biết nghe can gián để sửa được
sai lầm thì hiểm họa diệt vong đã ở ngay trước mắt.
Xây dựng một xã hội
mạnh thay vì một nhà nước mạnh. Bởi trật tự, pháp luật, nhà
nước... đều là công cụ để phục vụ cho giá trị xã hội chứ không
phải ngược lại. Một chủ trương muốn thuyết phục được dân chúng phải
là chủ trương được dân chúng phản biện và kiểm chứng qua thực tế
chứ không phải suy ra từ lý thuyết hoặc ý tưởng của một người hay
một nhóm người. Chủ trương đúng thì dân tôn và tòng. Nếu không dù bị
ép dân chỉ tòng chứ không tôn. Như thế thì quốc gia sụp đổ là tất yếu.
Mỗi quốc gia đều có tới
hàng trăm, hàng ngàn luật và sẽ không ngừng tăng nhanh cả số và chất lượng. Mỗi
con người từng ngày, từng giờ luôn sống trong sự ràng buộc, chi phối của rất
nhiều luật: Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự, Luật hình sự, Luật tố tụng hình
sự, Luật giao thông, Luật hôn nhân và gia đình, Luật đất đai, Luật cư trú, Luật
lao động, Luật doanh nghiệp, Luật thuế, Luật giáo dục, Luật nhà ở...cùng biết
bao quy định dưới luật.
Khổng Tử dạy: "Làm phải theo luật. Sống phải theo đạo". Muốn làm theo luật phải
hiểu luật. Hiểu luật là tự vệ tốt nhất. Hiểu luật để không phạm luật, để không
bị kẻ cậy quyền bát nạt, để tấn công kẻ vi phạm pháp luật bảo vệ mình, bảo vệ
người khác. Nhiều người phạm luật bởi không biết, không hiểu luật. Song cũng
không ít kẻ cố tình "lách luật". Quốc gia nọ dưới quyền cai trị của một
tên bạo chúa vô cùng tàn ác, dân tình oán hận muốn ra đi. Bạo chúa liền ban bố
đạo luật: ai rời bỏ đất nước cũng được, nhưng với điều kiện khi qua cửa ải phải
nói một câu. Câu đó đúng bị chặt đầu, sai bị treo cổ. Như thế chắc không kẻ nào
qua được. Nhưng không. Một đoàn người tới cửa ải, đồng thanh nói: "Hãy
treo cổ chúng tôi đi!". Quan trấn ải không biết xử trí thế nào. Bởi nếu
treo cổ, tức là họ nói đúng. Mà nói đúng, theo luật phải chặt đầu. Nếu chặt đầu,
tức là họ nói sai. Mà nói sai, theo luật phải treo cổ. Bất lực, quan trấn ải
đành phải cho cả đoàn người qua. Một câu nói chỉ có thể đúng, hoặc sai. Đúng,
sai đều phaỉ chết. Luật như thế tưởng đã quá chặt chẽ, vậy mà vẫn có kẽ hở để
"lách" qua. Mới biết việc làm luật sao cho đủ, chặt chẽ, kín kẽ, cụ
thể, chính xác, đồng bộ quả là khó và việc thực thi nghiêm minh pháp luật để từ
đó tạo được tín, được uy càng khó hơn. Pháp luật là công cụ hữu
hiệu để trị quốc. Luật phải được xác lập trên cơ sở của đạo và đạo phải dựa vào sự bảo đảm của luật. Trong luật có đạo và
trong đạo có luật. Luật không thể vô
đạo kiểu phát xít bóp chết quyền con người. Đạo cũng không thể vô luật vì tình
mà bất chấp kỷ cương phép nước. Thước đo của cả luật và đạo là lòng dân. Mục
đích của luật trước hết để răn đe, sau mới trừng trị. Thời nhà Tần chủ trương
trừng trị nặng những tội nhẹ. Bởi tội nặng khó phạm, tội nhẹ dễ phạm nhưng cũng
dễ tránh. Luật làm cho người ta bỏ cái dễ phạm mà không quên sợ cái khó phạm,
đó là đạo của việc trị nước. Nếu tội nhỏ không sinh, tội lớn không mắc thì sẽ
không loạn. Dùng hình phạt nặng trị tội nhẹ để cả tội nặng và tội nhẹ đều không
phạm, như thế gọi là dùng hình phạt để lọai trừ hình phạt. Làm quan toà khi xét
xử, phán quyết cần làm cho bị cáo biết lỗi nhận ra lỗi, biết tội nhận ra tội,
thương xót họ, tìm cách cứu giúp họ chứ không nên hãnh diện về tài hùng biện của
mình và tỏ ra mình nhiều quyền lực. Triều nhà Minh (Trung Quốc) Lục Lũng Kỳ làm tri huyện Linh Thọ. Có lần một bà cụ đến
công đường kiện con trai mình. Thời ấy, cha mẹ kiện con là việc rất hiếm nên
Lũng Kỳ xem xét thận trọng. Ông cho người đi tìm hiểu, điều tra và được biết cậu
con trai chưa đến hai mươi tuổi, bố mất sớm phải sống dựa vào mẹ. Nhưng do người
mẹ nuông chiều lại không biết quản dạy con, để anh ta giao du với những phường
vô lại nên nhiễm thói xấu. Lười biếng, hỗn láo, thô bạo, bất hiếu với mẹ khiến
bà cụ tủi nhục đành phải kêu quan khiếu kiện. Sau khi biết rõ sự tình, Lũng Kỳ
cho rằng nếu xử nghiêm theo luật sẽ thấu lý, nhưng khó đạt tình, bởi thế ông
nói với bà cụ: "Nhà tôi hiện nay đang cần một người giúp việc, nếu cụ đồng
ý tôi sẽ nhận con cụ đến làm tạm, đợi khi nào tôi tìm được người thích hợp sẽ
thay". Tuy chưa hiểu rõ ý định của quan tri huyện nhưng bà lão biết ông là
người nhân đức nên đồng ý. Lũng Kỳ chỉ có một yêu cầu với cậu con trai là phải
đi theo phục vụ ông từ sáng đến tối không rời nửa bước. Lũng Kỳ nổi tiếng là
người con có hiếu. Bố đã qua đời, chỉ còn mẹ. Mỗi buổi sớm ông thường đến đứng
kính cẩn trước phòng đợi mẹ dậy. Rồi ông bê nước, lấy khăn để mẹ rửa mặt, bưng
thức ăn mời mẹ điểm tâm, pha trà mời mẹ dùng. Khi ăn trưa Lũng Kỳ đỡ mẹ ngồi, còn mình đứng bên hầu hạ. Có lần ông còn
bắt chước điệu bộ của trẻ nhỏ để mẹ cười vui. Đợi mẹ ăn xong Lũng Kỳ mới ăn,
nhiều khi thức ăn trên bàn đều là thứ mẹ dùng thừa, nhưng Lũng Kỳ không hề câu
nệ, ăn rất ngon lành. Bữa tối cũng như thế. Sau giờ làm việc trên công đường
Lũng Kỳ lại vội vã về hầu hạ mẹ. Mỗi khi mẹ ốm ông luôn túc trực bên giường bệnh,
có khi thức trắng đêm. Rảnh rỗi thời gian nào ông lại miệt mài đọc sách, hầu
như quên cả việc bên mình có một “phạm nhân” can tội bất hiếu với mẹ, cũng chẳng
bao giờ giáo huấn anh ta một lời về đạo đức. Cứ như vậy suốt hai tháng, một hôm
đột nhiên chàng trai kia chạy đến quỳ sụp trước mặt Lũng Kỳ xin cho anh ta được
về nhà thăm mẹ. Lũng Kỳ nói: "Ngươi là đứa con bất hiếu. Vụ kiện chưa thụ
lý làm sao ngươi có thể về nhà được". Chàng trai liền oà khóc, nức nở nói:
"Trước kia tiểu nhân hồ đồ ngu muội không hiểu đạo lý nên mới đắc tội với
mẹ. Từ khi được theo hầu đại nhân tiểu nhân đã hiểu được thế nào là đạo làm
con. Nay tiểu nhân xin được về để phụng dưỡng mẹ già bù đắp những lỗi lầm đã phạm
phải...”. Lũng Kỳ nghe xong lấy làm mừng, bấy giờ ông mới giảng giải cho cậu ta
những điều sâu sắc của đạo nghĩa, rồi cho anh ta về. Quả nhiên sau này anh ta
trở thành đứa con hiếu thảo, lại chuyên tâm học hành, cũng đỗ đạt và được Lũng
Kỳ tuyển chọn vào làm một chức quan nhỏ trong huyện.
Cho nên một viên chức chân chính của ngành luật pháp cần
có tâm sáng, lòng rộng, không chỉ thế còn phải rất vững vàng, kiên quyết không
để ma lực của đồng tiền mua chuộc, cũng không thể bị sở hữu của các thế lực,
hay chính khách, mà chỉ thuộc về công lý. Thời Xuân Thu, Lý Ly làm quan coi
ngục đời Tấn Văn Công, vì nghe lời cáo sai, lại không tra xét kỹ đã giết nhầm
một người nên vô cùng hối hận. Ông tự trói mình, tấu xin vua xử mình tội tử
hình. Tống Văn Công rất xúc động, phán: "Cấp dưới của khanh sai, khanh lại
nhận hết trách nhiệm đòi xử tội mình. Vậy khanh là cấp dưới của trẫm, khanh sai
thì trẫm phải chịu tội ư?". Lý Ly tâu: "Chức trách của quan coi ngục
được quy định rõ trong luật. Hạ thần làm sai để người khác chết oan thì phải
chịu xử tội chết. Thần biết Hoàng thượng gia ân, nhưng pháp luật không thể
không nghiêm, thần mong được toại nguyện". Nói xong rút kiếm tự cắt cổ
mình. Giữ luật nghiêm, nhưng không được lạm dụng pháp luật để đàn áp, để thực
hiện mưu đồ phi chính, bất nghĩa hoặc bù lấp cho sự yếu kém, bất lực trong quản
lý vận hành xã hội. Đảm bảo nghiêm minh chặt chẽ về pháp luật, đồng thời phải
mở rộng dân chủ, giải phóng sự sáng tạo. Đã có thời do không kiểm soát khống
chế nổi bệnh dại, lập tức người ta ra lệnh cấm nuôi chó. Thành tựu lớn của loài
người trải qua bao nhiêu đời là thuần hoá được "khuyển",
"mã" từ hoang dã thành vật nuôi. Đó cũng là loài vật rất thông minh,
rất trung thành và tình nghĩa với chủ, không phân biệt giầu nghèo, sang hèn,
khi thịnh, lúc suy mà con người coi như bạn. Giết và cấm nuôi chó vừa
phản khoa học vừa trái đạo lý. Nếu tư duy kiểu như thế thì điện giật
chết nhiều người: cấm điện? Ôtô, xe máy làm ách tắc giao thông, gây tai nạn:
cấm ôtô, xe máy? Bảo thủ, độc đoán không muốn nghe, thậm chí sợ phản biện thì
tìm cách cấm phản biện...Do yếu kém, bất lực, hoặc dấu dốt, sợ trách nhiệm bất
chấp cả lợi ích quốc gia liền lạm dụng quyền lực nhằm cấm đoán. Cách làm đó là
phạm luật, là phản luật.
Thời Chiến Quốc, dân thành Phú Thứ có tập quán làm việc ban đêm. Quản Thục
là quận thú ra lệnh cấm, vì làm đêm đốt lửa dễ gây hoả hoạn. Dân bất bình lắm,
nhưng do mưu sinh nên họ vẫn lén lút làm đêm. Vì lén lút nên càng nhiều hoả
hoạn. Khi quận thú Liêm Pha về thay, ông bãi bỏ lệnh cấm, cho dân được làm đêm,
song nhà nào cũng phải có bể nước để kịp thời dập lửa khi cháy. Dân phấn khởi
nghiêm chỉnh chấp hành, không có hoả hoạn mà kinh tế phồn thịnh. Muốn quản lý
điều hành quốc gia bằng luật pháp thì phải đủ luật, luật phải đồng bộ, phải phù
hợp với thực tế, đặc biệt phải nghiêm. Phạm luật phải xử theo luật, bất luận là
ai, hoàng đế hay thảo dân. Không biết dụng luật, dụng luật không nghiêm gây bất
bình trong xã hội khiến kỷ cương rệu rã, đất nước suy vong, trách nhiệm thuộc
những người đứng đầu bộ máy công quyền, đứng đầu quốc gia và cũng phải xử theo
luật. Không có bất kỳ ai dù Thừa tướng hay Hoàng đế được phép đứng
ngoài hoặc ngồi trên luật. Có như thế nước mới thịnh, dân mới an.
Với cộng đồng: cộng đồng hẹp là gia
đình, dòng tộc, rộng là quốc gia, quốc tế. C.
Mar viết: "Con người là tổng hoà các
mối quan hệ". Trong đó bản thân luôn là chủ thể. Vì vậy tìm hiểu, phân
tích, đánh giá đúng bản thân là không thể không làm. Hơn thế, phải làm thật
nghiêm túc và khách quan. Người ta thường có thói quen sống theo bản năng, ít
khi tự phân tích chính mình, ít dám nhìn thẳng vào bản chất mình mổ xẻ cho kỹ,
tìm ra hết để biết tất cả cái tốt, cái xấu, công và tội. Suy cho cùng thì ai
cũng có tốt, có xấu, có công, có tội, mà trước hết là tội với chính bản thân
mình, thậm chí hành hạ và giết chết nhân cách của chính mình. Càng về già càng
có điều kiện sống nhiều bằng suy nghĩ và càng thấy rõ sự hãnh tiến, háo danh,
hám lợi, kèn cựa, ghen ghét, đố kỵ, tham lam của mình trước đây sao mà lố bịch,
mà hèn hạ, càng thấy xót xa ân hận và tủi hổ. Bởi vậy mà muốn khám phá mình
hơn, muốn hiểu mình hơn và muốn sống lương thiện hơn. Một lần Tử Lộ hỏi Khổng Tử:
"Ở làng nếu có người được tất cả dân chúng ca tụng thì đó là người thế
nào?". Khổng Tử đáp: "Đó không phải người hiền". Tử Lộ lại hỏi:
"Nếu có người bị tất cả dân chúng ghét, thì đó là người thế nào?". Khổng
Tử đáp: "Đó cũng không phải người hiền". "Vậy thế nào là người
hiền?". "Ai được người thiện ưa và người bất thiện ghét thì đó là người
hiền". Bởi thế muốn hiểu mình hãy tự hỏi ai yêu mình và ai ghét mình? Họ
là người thế nào? Nghĩa là phải hiểu mình và hiểu người. Không hiểu mình, hiểu
người sẽ không hiểu được đời. Không biết dùng chính mình thì sao biết dùng người.
Ta là ai? Ta là gì? Ta thế nào? Tốt? Xấu? Mạnh? Yếu? Sở trường? Sở đoản? Dũng?
Hèn? Quân tử? Tiểu nhân?... Nghĩa là tất cả những gì thuộc bản chất, bản lĩnh,
bản tính mà ta có hoặc không có đều phải biết. Để từ đó tự thấy ta có thể dùng
được vào việc gì và việc gì không thể dùng. Ở đời tài năng mỗi người có lớn và
có nhỏ. Tài nhỏ không dùng vào việc lớn được và tài lớn cũng chưa chắc đã làm
được việc nhỏ. Sau khi lấy thiên hạ, Lưu Bang hỏi Hàn Tín: "Ngươi xem ta
có thể thống lĩnh đại quân trăm vạn được không?". Hàn Tín đáp:
"Không". "Chục vạn quân được không?". "Không".
"Vậy bao nhiêu?". "Một vạn thôi". "Còn ngươi?".
"Càng nhiều càng tốt". "Vậy sao ta làm vua, ngươi chỉ làm tướng?".
"Vì bệ hạ không giỏi cầm quân, nhưng giỏi cầm tướng". Phải chăng Hàn
Tín đúng. Bởi Lưu Bang đã dùng được cả Hàn Tín, Trương Lương, Tiêu Hà... Ở đời
có người chỉ huy tướng được, chứ không chỉ huy quân được và ngược lại. Đốí với
bậc minh chủ, nếu có được lòng dân và nhân tài sẽ có được thiên hạ. Lưu Bang là
thế. Ta có thể thấy cái cách ngàn bước mà không thấy được lông mi của mình.
Không phải cái cách ngàn bước gần, cái lông mi xa, mà bởi không thể làm được.
Giống như lực sĩ sức địch muôn người cũng không thể nhấc nổi chính mình. Cho
nên phải biết tài nào dùng việc nấy. Giỏi dụng binh thì để chỉ huy quân đội.
Tài công nghệ thì dùng chế tạo máy móc. Thông thạo buôn bán thì dùng phát triển
thương mại. Sắc sảo biện luận thì dùng ngoại giao. Hiểu mình thì biết dùng
mình. Hiểu người thì biết dùng người. Không biết được cái yếu của mình, của người
sẽ không thấy được cái mạnh của mình, của người. Không thấy được cái yếu trong
cái mạnh và không thấy được cái mạnh trong cái yếu của mình, của người sẽ không
biết dùng mình và dùng người. Hiểu mình, hiểu người thì những thứ tưởng bỏ đi
cũng có thể dùng vào việc hữu ích. Thời Thiên chuyên nghề trộm cắp, rất giỏi
đào ngạch chui tường được các hảo hán Lương Sơn Bạc thâu nạp dùng ngay cái biệt
tài ấy và anh ta trở thành một lính thám báo siêu hạng. Hơn thế, đại ca Triều
Cái trong "Thuỷ hử" còn biết
dùng người điếc làm hầu cận, người câm làm giao liên, người què coi chòi
canh...Cho nên dùng người không nhất thiết nhằm vào kẻ đã thành danh, mà cái
chính là phải hiểu và phát hiện ra tài năng tiềm ẩn ở họ. Giống như "thiên
lý mã" khi còn nằm dưới gầm xe chở muối Bá Nhạ đã phát hiện ra những tố chất
của ngựa quý bởi Bá Nhạ biết xem tướng ngựa. Nếu không có Bá Nhạ
thì "thiên lý mã" sao có cơ hội bộc lộ khả năng phi thường của
nó. Quốc gia nào cũng thế "thiên lý mã" không thiếu mà chỉ thiếu Bá
Nhạ. Thời Chiến Quốc, chư hầu tranh bá, nhiều minh chủ ý thức được tầm quan trọng
của việc dụng nhân tài. Lỗ Trang Công phá lệ dùng Tào Quệ mà đánh bại đối thủ mạnh
hơn mình. Tề Hoàn Công bỏ qua thù oán cá nhân dùng Quản Trọng làm Tướng quốc mà
trở nên siêu cường. Ngô Vương dùng Tôn Vũ giỏi binh thư nên đại phá quân Sở...
Đặc biệt nước Tần, hầu như đời nào cũng biết trọng dụng nhân tài. Biết Bách Lý
Hề là bậc siêu phàm từng làm quan đại phu nước Ngu không may sa cơ, Tần Mục
Công tìm mọi cách cứu giúp đưa về phong làm Thừa tướng. Bách Lý Hề không phụ ân
nghĩa ấy hết lòng phò tá. Ông còn quy tụ và tiến cử cho Tần Mục Công nhiều hiền
tài nổi tiếng khác như Kiển Thúc, Mạnh Minh Thị, Do Dư... Nhờ thế nước Tần trở
nên hùng mạnh hai lần đại phá quân Tấn, bắt Tây Nhung thần phục, trở thành một
trong năm bá chủ. Đời Tần Hiếu Công rất mực đề cao và trọng dụng Thương Ưởng
làm quân sư. Nhờ những cải cách triệt để của Thương Ưởng mà nước Tần đứng đầu bẩy
nước hùng mạnh nhất thời Chiến Quốc. Đời Tần Huệ Vương biết lôi kéo, dùng Cam Mậu
người nước Sở mà đánh bại nhiều chư hầu lớn ở phía Đông mở mang bờ cõi. Đời Tần
Vũ Vương biết Trương Nghi có tầm chiến lược phong chức Tướng quốc, dùng làm
thuyết khách đem "Kế hợp tung"
để phá "Kế liên hoành" của
đối phương. Đời Tần Chiêu Vương biết Phạm Duy là nhân tài bị nước Ngụy hãm hại
đã tìm cách cứu đưa về phong làm tướng. Nhờ "Kế viễn giao cận công" do Phạm Duy đề xuất mà đánh bại nhiều đối
thủ...Đến đời Tần Thuỷ Hoàng biết trọng dụng Trịnh Quốc người nước Hàn, một
chuyên gia rất giỏi về thuỷ lợi. Nhờ kế sách của Trịnh Quốc mà cả vùng Quan
Trung khô cằn trở nên phì nhiêu, màu mỡ, năm nào cũng được mùa lớn. Biết lôi
kéo, trọng dụng Lý Tư đến từ nước Sở, Uý Liêm đến từ nước Ngụy, rồi Mông Điền,
Vương Tiễn và nhiều người tài khác phong làm tướng...Nhờ thế mà diệt Tề, phá Sở...thống
nhất thiên hạ. Tào Tháo
biết rằng muốn thành đại nghiệp phải cần nhiều người tài, bởi thế ông rất coi
trọng việc tuyển chọn và sử dụng hiền tài, thậm chí có lúc còn hạ mình trước kẻ
sĩ, bất luận họ là ai, xuất thân từ đâu, kể cả kẻ thù.
Trương Tú đã
từng giết cả con, cháu Tào Tháo. Nhưng khi Trương Tú quy hàng, biết người này
có tài Tào Tháo chủ động làm lành, hơn thế để tránh nghi ngờ ông còn cưới con
gái Trương Tú cho con trai mình. Quả nhiên Trương Tú dốc hết tâm lực một lòng
phò Tào Tháo cảm tử xông pha chiến trận giết chết Viên Đàm lập công lớn ở Quan
Độ.
Trần Lâm khi
theo Viên Thiệu đã soạn hịch văn sỉ nhục tới cả ba đời nhà Tào Tháo khiến lửa hận
trong ông bốc ngùn ngụt. Nhưng sau này trong trận Hà Bắc, Trần Lâm bị bắt, xin
quy hàng. Biết Trần Lâm là nhân tài, Tào Tháo sẵn sàng bỏ qua thù cũ, không trị
tội, mà còn tin dùng bổ nhiệm làm Chưởng quản văn thư cho mình.
Những việc
làm như thế khiến hiền tài khắp thiên hạ tìm đến với ông và nước Ngụy sớm thành
siêu cường. Có kẻ đã làm đến Tể tướng hoặc vương bá mà tư chất tiểu
nhân nhớ lâu hận dai đàn áp trả thù hèn hạ kể cả những bậc đại
sĩ, đại phu thì làm sao lo được việc quốc gia đại sự.
Hiểu người, thắng người
đã khó, nhưng hiểu mình và thắng mình còn khó hơn nhiều. Bởi bí mật lớn nhất ở
đời là chính mình và kẻ thù lớn nhất ở đời cũng là chính mình. Lão Tử dạy:
"Lo thắng người thì loạn. Lo thắng
mình thì an". Có những thứ chỉ mở mắt không thấy được, phải mở lòng,
mở óc, mở tâm mới thấy. Đại vương Trần Hưng Đạo viết: "Hiểu được mình là anh. Thắng được mình là
hùng" quả chí lý và sâu sắc. Chưa
hiểu được mình, chưa thắng được mình thì dù có được phong đến hai lần anh hùng,
song thực tế vẫn chưa phải anh hùng và ngược lại.
Hiểu mình luôn kèm với rèn mình. Khổng Tử dạy: "Tu thân-Tề gia-Trị quốc bình thiên hạ".
Ngài coi cộng đồng nhỏ là gia đình. Gia đình giữ vai trò cầu nối giữa bản thân
với cộng đồng lớn quốc gia, quốc tế. Tu thân là rèn luyện bản thân. Tề gia là
giữ hoà thuận gia đình mình. Trị quốc bình thiên hạ là trách nhiệm với Tổ quốc.
Tu thân để đạt chính nhân quân tử. Quân tử là tiêu chí đạo đức, nhân cách của
những người biết sống có đạo. Người quân tử thấy sai thì sửa chứ không bội ước.
Chết cho cái chí của mình chứ quyết không đem cái chí của mình làm nô lệ. Chịu
chết chứ không chịu nhục, không chịu làm điều ác. Không xu phụ quyền thế. Không
khiếp sợ uy vũ. Tìm minh chủ tôn phò chứ quyết không luồn cúi kẻ thất phu. Coi
trọng tình nghĩa, không tham lam vật chất. Nhân hậu, khoan dung, không để bụng
những sai lầm của người khác. Lấy trung thành, tín, thật làm chủ đích. Người
quân tử buồn vì không có khả năng chứ không buồn vì người khác không biết đến
mình. Người quân tử không vì lời nói của người mà dùng người, cũng không bỏ người
vì lời nói của họ. Người quân tử cho rằng nếu làm điều gì không ngay thẳng thì
dù nhìn thấy đứa trẻ con cũng nơm nớp lo sợ. Nếu không làm điều gì khuất tất
thì dẫu trước ngàn vạn binh đao cũng vẫn ung dung thanh thản. Người quân tử
hàng ngày tự xét mình nhiều lần, thấy không làm điều gì xấu thì không phải lo.
Người quân tử thản nhiên thư thái, thắng không kiêu, bại không nản, nhiều khi lấy
bại làm vinh chứ không coi là nhục nếu mục đích việc làm đó cao cả. Người quân
tử không nghĩ điều ác, không nói lời ác, không làm việc ác. Người quân tử oán lớn
cũng quên, nhưng ơn nhỏ cũng nhớ. Người quân tử dù bị người phụ chứ không phụ
người. Người quân tử ưa phù suy, không ưa phù thịnh và cho rằng cảm phục, học
được ở người thất bại nhiều hơn ở kẻ thành công. Vẻ đăm chiêu của người thất bại
có chiều sâu nội tâm và toát lên sự đau khổ cao quý. Còn gương mặt kẻ thành
công chỉ đầy tự mãn, thậm chí kiêu ngạo. Người quân tử rất coi thường tiểu
nhân. Bởi quân tử mong đạt ở cái lý cao minh, tiểu nhân cầu ở cái hèn đê tiện.
Quân tử quan tâm ở ý nghĩa, tiểu nhân quan tâm ở danh lợi. Quân tử cầu ở chính
mình, tiểu nhân van xin cậy nhờ người khác. Quân tử thành đạt mà không kiêu
căng, tiểu nhân kiêu căng mà không thành đạt. Quân tử hoà với mọi người mà
không hùa về ai, tiểu nhân hùa với từng người mà không hoà vào ai. Quân tử lúc
nào trong lòng cũng bình tĩnh tự tin, tiểu nhân trong bụng lúc nào cũng lo ngay
ngáy. Quân tử cố giữ gìn nhân cách kể cả lúc khốn cùng, tiểu nhân gặp khi khốn
cùng thì nghĩ bậy, làm bậy. Quân tử háo đức, tiểu nhân háo sắc. Quân tử trọng
thày, quý bạn và rất ghét sự cừu địch, tiểu nhân thì trái lại: cực xấu mà lại
ghét người chê mình, rất dở mà lại thích người ta khen mình, bụng dạ như hổ
lang, ăn ở như cầm thú mà thấy người ta không phục lại không bằng lòng. Thân với
kẻ xu nịnh, xa lánh người khuyên can. Thấy người chính trực thì cười, thấy người
trung tín thì chê. Quân tử coi bản thân là cái gốc của gia đình. Gia đình là
cái căn bản của xã hội. Việc nước chẳng qua là việc nhà mở rộng. Có tu thân mới
tề gia trị quốc bình thiên hạ được. Bởi thế tu thân là nền tảng của đạo. Phàm ở
đời cái gì gắn với nhân cách đều có đạo. Văn có đạo văn, võ có đạo võ, nghề nào
có đạo của nghề ấy, cây bút, thanh kiếm, đồng tiền, cây đàn, cho đến thưởng
trà, thưởng rượu, hiếu, hỷ, cương, nhu, nhẫn, nộ...đều mang hồn của đạo. Có người
chỉ biết nghề mà không hiểu đạo của nghề. Cầm trong tay cây bút, thanh kiếm, đồng
tiền mà không hiểu đạo của cây bút, thanh kiếm, đồng tiền. Có hai loại
"chính đạo" và "tà đạo". Ứng với "chính đạo" là
chính tâm. Ứng với "tà đạo" là tà tâm. Phải phân biệt để hướng
"chính đạo" loại "tà đạo". Bao trùm là "Đạo
làm người". Đó là Đại đạo. Trong Đại đạo gồm nhiều tiểu đạo: với Tổ
quốc: Đạo trung; với tổ tiên, ông bà,
cha mẹ: Đạo hiếu; với vợ chồng: Đạo nghĩa; với anh chị em: Đạo đễ; với con cháu: Đạo từ; với thày cô giáo: Đạo sư phụ; với bầu bạn: Đạo hữu; với đồng loại: Đạo nhân...Sống phải có đạo.Vô đạo không
phải sống mà chỉ là tồn tại. Muốn làm ông nọ bà kia thì trước hết phải biết làm
người đã. Mà muốn biết làm người thì phải học để biết thế nào là Đạo làm người và phải sống theo Đạo làm người. Dâũ là người mà không biết
Đạo làm người và không sống theo Đạo làm người thì sẽ chẳng bao giờ thành
người. Làm quan dễ, làm người mới khó. Ở đời có kẻ đã làm đến ông nọ bà
kia, thậm chí đoạt đến chức Thử tướng mà chưa biết làm người, như thế
thì chỉ chuốc lấy ô danh và đem hậu hại cho cộng đồng xã hội. Những loại ấy rất
cần phải biết lấy đạo để uốn chỉnh mình. Cổ nhân dạy: "Vương hữu đạo
quốc tất an. Vương vô đạo quốc tất loạn". Người đứng đầu xã tắc
phải nêu tấm gương về đạo, trước hết là Đạo làm người. Hàn Phi Tử viết: "Mắt không nhìn thấy mặt mình được nên phải lấy gương để soi. Cái khôn
không tự biết mình được nên phải lấy cái đạo để sửa mình. Cái gương không có tội
vì đã thấy những chỗ sẹo. Cái đạo không có thù oán vì đã làm rõ cái sai. Con mắt
không có gương thì không thể dựa vào cái gì để sửa râu mày. Con người không có
đạo thì không biết dựa vào đâu để sửa nhân cách".
( Còn nữa... )
Cháu cảm ơn Bác rất nhiều.Bác đã giúp cháu nhìn ra xa và mở mang đầu óc rất nhiều.Thế hệ trẻ tương lai Việt Nam cứ sống dưới "Bầu Trời U Ám Này" có lẽ hỏng mất...Cháu lo cho tương lai thế hệ trẻ lắm...Vì cháu rất yêu nghề Giáo Viên.có lẽ "Dưới ánh Mặt Trời không có nghề gì cao quý bằng nghề dạy học" Nên cháu rất lo cho học sinh của mình và trong tương lai có cả con,cả cháu của mình nữa...Cháu chúc bác luôn mạnh khỏe và gặp nhiều may mắn.
Trả lờiXóa