Lê Xuân Quang.
Ly, Mỵ, Võng, Lượng - Tứ tiểu quỷ.
Ðây là vế ra đề rất khó, ác hiểm: 4 chữ đầu
đều là tên 4 Quẻ trong Kinh Dịch . 3 chữ tiếp theo lột tả bản chất của 4 chữ
đầu, tạo ra một tập hợp Hán từ vừa mang ý nghiã cấu trúc của từ vựng tượng
hình, vừa mang ý nghĩa của từ rất ''Nôm'' – (Người xấu như Qủy). Ðiều quan
trọng: Làm thế nào để đối được câu này hoàn chỉnh cả về ý lẫn về lời. Nhất là
làm sao hạ gục, xóa bỏ ý nghĩa của tập hợp từ ''Tứ Tiểu Qủy''
Kinh Dịch là tác phẩm triết học, khoa học cổ
đại nhất của Trung Hoa mà chỉ có rất ít những người học giỏi, học rộng,
đọc, hiểu. Kinh Dịch lại viết bằng Hán tự - tiếng nói, ngôn ngữ của chính họ.
Dưới mắt họ, viên Sứ thần nước Man di - xấu như qủy - tài học làm sao bì được
với những bộ óc kiệt xuất của Trung Nguyên. Chẳng ngờ, nhận đề xong, cụ Mạc
không suy nghĩ, đọc ngay vế đôí:
Còn khách thì kiêu hãnh cũng tự nhận, đặt mình
vào 8 chữ Vương - Bát Ðại Vương (8 ông vua lớn - tiếng Hán cổ) - chứ không phải
là 4 Qủy Nhỏ. Trước 8’’vua lớn’’ tất nhiên 4’’qủy nhỏ’’ sẽ bị chém đầu.
Quan viên nước chủ nhà ra đón đều giật mình
kinh ngạc, bái phục, vội mở rộng cửa mới danh sỹ Mạc Ðĩnh Chi vằo trình quốc
thư. Chính những thử thách này… nhà vua Trung Hoa đã phong cho Mạc Đĩnh Chi
danh xưng - Lưỡng quốc trạng nguyên !
Không thua kém tiền bối, 8 thế kỉ sau (1304 –
1907) Vua Duy Tân đã phát huy tinh thần chống giặc xâm lược Pháp qua một câu
đối. Tương truyền: Sau khi chiếm thành Hà Nội, để dễ bề cai trị, Pháp chia bản
đồ nưóc ta thành 3 vùng - 3 kì: Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì. Bắc và Trung kì giao
cho chính phủ Nam triều nhà Nguyễn qủan lí, dưới sự giám sát của viên Khâm sứ
đại diện cho toàn quyền Đông Dương. Nam kì tách ra thành lập chế độ thuộc địa,
trực tiếp Pháp cai trị. Quyết định này dấy lên sự chống đối mãnh liệt của dân
Việt và triều đình nhà Nguyễn trước sự xâm l ược trắng trợn của Pháp..
Hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh San sinh nă m 1900 ,
lên ngôi năm 1907, đặt niên hiệu Duy Tân. Ông lên ngôi, còn qúa trẻ ,
thực lực của đất nước hạn chế: Quân sự yếu kém, kinh tế nghèo nàn nên đành chịu
lép vế , dù vị vua trẻ có ý định ngay từ khi lên ngôi muốn Duy Tân đất nưóc..
Một lần, tên Khâm sứ đến yêu cầu nhà vua và
triều đình tham gia cùng chúng dẹp yên sự chống đối của dân Việt trước việc
phân chia. Y là tên thực dân cáo gìa, thông tuệ ngôn ngữ Hán - Nôm, hiểu phong
tục tập quán lịch sử, địa lý của Việt Nam. Sau một hồi làm việc căng thẳng, để
giảm sức căng, Y khéo léo lái cuộc ’’hội đàm’’ sang lĩnh vực văn chương, cùng
nhà vua bàn chuyện thi phú... sau một hồi rào đón…rốt cuộc đề nghị hai bên chơi
chữ - đọc câu đối . Nhà vua trẻ đồng ý, viên khâm sứ đọc vế ra:
Rút ruột Vương - Tam phân thiên hạ
Phải thừa nhân vế ra của tên thực dân cáo già
rất hay, khúc chiết, lại nói lên được vấn đề mà Y đang quan tâm. Đây là loại
câu đối dùng chiết tự trong chữ Hán:
Chữ Vương là Vua.
Nếu (rút) bỏ đi nét sổ, nằm ở giữa (ruột) -
chữ Vương thành chữ TAM là Ba - con số 3 đang nhức nhối trong lòng nhà
vua (tam phân thiên hạ). Cân đối ngụ ý: Ông Vua hãy cởi lòng, bỏ đi những
trăn trở, mặc cảm đưa việc phân chia địa lí (3 Kì) vào ổn định, để Pháp - Việt
chung sống trong hòa bình, thịnh vượng - đề huề.
Vua Duy Tân là ông vua có ý chí tự
cường, thông minh bẩm sinh (2). Ngay từ khi lên ngôi, tuổi còn ấu thơ (8 tuổi)
đã có tinh thần kiên cường , là một trong 2 vị vua thời nhà Nguyễn có tinh thần
chống Pháp mạnh nhất (Duy Tân, Hàm Nghi). Vế ra đề không thể làm khó được
vị vua thiếu niên anh hùng. Chẳng cần suy nghĩ lâu, nhà vua đọc ngay vế đối :
Chặt đầu TÂY - Tứ hải gia huynh .
Nhà
vua cũng dùng phương pháp chiết tự để bẻ gẫy ý chí ngông cuồng của tên thực
dân. Trong Hán tự: Chữ TÂY –‘’chặt đầu’’ - (bỏ đi nét ngang trên đầu), trở
thành chữ Tứ là Bốn - 4. Mệnh đề phụ của vế đối là một thành ngữ: Tứ Hải
gia huynh đệ - (Bốn bể đều là anh em). Nhà vua đã lớn tiếng mắng vào mặt tên
xâm lược : Nếu giết hết bọn bay, thiên hạ sẽ thái bình, tình anh em sẽ được
thiết lập !
Vương - đối với - TÂY
Tứ - đối với - Tam
Tứ hải gia huynh - đối với - Tam phân thiên hạ .
Cứ tưởng hai Nho sĩ đang thù tạc khi ’’trà dư
tửu hậu’’, nhưng thực chất là một cuộc đấu bằng ý chí thông qua ngôn ngữ. Đó là
thông điệp của ’’thiên tử’’ , thay mặt cho ’’thần dân’’ nước đại Việt, dõng dạc
tuyên bố: Nước Việt quyết tâm đánh đuổi kẻ xâm lược, xây dựng mối giao hảo an
hem với bốn biển năm châu…
Một lĩnh vực để Câu đối vùng vẫy là hài hước,
chế diễu, biểu dương nhưng thật tế nhị, thâm thúy - đó là vịnh, ’’chọc cười’’
đối tượng. Người bị ’’chọc’’ không giận (tuy trong lòng không thích). Lây vài
câu tiêu biểu làm thí dụ:
Nguyễn Công Trứ thời trai trẻ rất phong lưu,
đào hoa, thích hát xướng đặc biệt ông thích 2 loại hình: Chèo và hát ả đào (cô
đầu). Khi đã thi đỗ, làm quan, cụ vẫn mê hát. Cụ nghè Nguyễn Qúy Tân là bạn
học, quen biết, hay chữ rất hiểu bạn mình. Một lần khi cụ Thương Trứ đã về nghỉ
hưu, con chắu làm lễ thượng thọ mời quan khách tới dự. Cụ Nghè Tân gửi tặng đôi
câu đối:
Giang sơn tóm lấy đôi sân khấu
Văn vũ ra tay một khúc cầm.
Mọi người trong nhà xúm vào khen rối rít. Cụ
Thượng Trứ chỉ tủm tỉm cười... bạn bè cố suy nghĩ, mải sau rồi cũng hiểu ra
thâm ý của Nghè Tân…
Nguyễn Công Trứ là vị quan có công khai khẩn
đất hoang ven biển Vịnh Bắc Bộ nằm ở 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, tạo
ra miền đất trù phú làm cho dân chúng phát triển nghề canh nông, nhưng bản chất
phóng khoáng, trăng hoa đặc biệt vơi các Đào nương. Cụ rất thích sân khấu,
tuồng chèo. Một giai thoại kể lại: Khi còn đi học, một lần cùng người đẹp đi
trên cánh đồng đang mùa lúa trổ bông. Mây nước gợi tình, chàng Nguyễn lấy ngay
đất làm giường, trời làm màn, chiếu cùng nàng ’’mây mưa’’...
Khi đã làm quan lớn, nhân vjêc đi kinh lí qua
vùng kia, nghỉ trong nhà khách của quan Huyện. Người giúp việc vào báo
tin, một phụ nữ rất đẹp muốn được tiếp kiến. Thấy nói có phụ nữ đẹp tới thăm,
cụ Nguyễn cho vào. Nhìn thấy người nhưng Quan không nhớ đã gặp ở đâu... Người
phục nữ kia biết ý cất tiếng ngâm hai câu thơ:
Giang sơn một gánh giữa đồng
Thuyền quyên ứ... hự... anh hùng nhớ chăng?
Nghe câu thơ, Nguyễn Công Trứ nhớ tới cái buổi
cùng người đẹp đi trên cánh đồng... cụ nhận ra ’’người xưa’’.
Trên sân khấu biểu diễn có người hát, phải cò
đàn - (cầm), nên đọc câu đối lên, thấy ngay không khí ca vui:
Giang sơn - đối với - Văn
vũ (Đất nước - quan văn, quan võ)
Tóm lây - đối với -
ra tay
Đôi sân Khấu - đối với - Một
khúc cầm.
Trên - tóm lấy đôi…
Dứới - cầm một khúc…
Ngẫm nghĩ, liên hệ rồi trí tưởng bay bổng,
ngưòi đọc nhận ra ngay’’hiện trường’’…
Bản tính gió trăng của cụ Thương thời trai
trẻ... nhất là 6 từ của 2 câu trên: Đôi san khấu - Một khúc cầm.
Chẳng trách nào cụ Thượng bị lão Nghè chơi ’’xỏ’’ mà chi biết cười trừ… vì câu
đối qúa hay, dùng từ qúa chuẩn, qúa đúng…không thể giân ’’Lão ngoan đồng’’ này
được!
Một câu đối khác của ông bạn gìa - quan văn,
tặng ông bạn gìa - quan võ, cũng được người đời truyền tụng: Hai ông là bạn học
thời trẻ. Về gìa cùng nghỉ hưu. Quan võ cả cuộc đời chính chiến, tung hoành làm
lên nhiều chiến công, nhưng thân thể cũng trầy da tróc vẩy... Nhân lễ mừng
thượng thọ, ông quan văn sai người mang đến tặng bạn đôi câu đối:
Cung kiếm ra tay - Thiên hạ đổ dồn hai mắt lại
Đao thương vùng vẫy - Anh hùng chỉ có một
ngươi thôi.
Quan võ nói tên...
Bạn rượu nghiêm nghị, hỏi: Ông thấy câu đối có
gì khác không?
Quan võ vốn thật thà, trả lời: Chẳng có vấn đề
gì cả. Có điều ’’thằng cha’’ đề cao tôi hơi qúa. Cái gì mà ’’thiên hạ đổ
dồn’’... ’’anh hùng chỉ có...’’.
Ông bạn kia cười vang, bảo: Vấn đề ở câu
đó!
Sau một hồi suy nghĩ quan ta nhận ra, nổi cắu:
Thế hóa ra nó chửi tôi là thằng chột, ư?. Câu đối nghĩa đen ca ngợi bạn
nhưng cũng chấm phá vài nét về thân hình: Quả thật trong chiến trận, quan võ đã
bị chột (hỏng) một mắt. Người chột (chỉ còn một mắt - con ngươi) nên khi nhìn
vật nào đó phải ’’đổ dồn’’ mắt còn lại vào điểm nhìn. Còn, người ’’anh
hùng chỉ có một (con) ngươi thôi’’ – cũng chính còn bao gồm anh hùng chột một
mắt!
Berlin - Tết Nhâm Thìn 2012
LXQ
(1)
- Mạc Đĩnh Chi (chữ Hán: 莫挺之; 1280-1346) tự Tiết Phu (節夫), làm quan đời Trần Anh Tông (sau là đời Trần minh Tông). Ông vừa là trạng nguyên của Đại Việt và cũng được phong làm lưỡng quốc
trạng nguyên (Trung Hoa và Đại Việt) khi sang sứ Trung Hoa .
Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí
Linh (nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông có tướng mạo xấu xí nhưng
trí tuệ thông minh
(2) Tên của vua Duy Tân là Nguyễn Phúc Vĩnh San,
con thứ 5 của vua Thành Thái. Sinh năm 1900, lên ngôi vua
năm 1907 hiệu là Duy Tân, bị Pháp truất ngôi năm 1915, đưa đi đầy ở đảo
Ruynion…
Tương tuyền, nhà vua rất thông minh. Một giai
thoại được ghi lại: Lúc bẩy tám tuổi, khi ra bải biển cửa Tùng tắm, chân tay
nhà vua lấm cát, bùn. Thị vệ bưng chậu nước đến để vua rửa, nhìn thấy chậu
nước, vua hỏi: Chân tay bẩn thì lấy nước mà rửa, vậy Nước bẩn lấy gì mà rửa?
Quan tháp tùng, thị vệ chưa ai kịp lên tiếng,
nhà vua đáp ngay: Thì tìm cách trừ khử những vật ngoại lai lẫn vào trong đó -
hiểu không?
0 nhận xét:
Đăng một Nhận xét